Bỏ qua, tới nội dung chính
🔍 👤

Tất-đàn

Sanskrit: siddhānta

Bốn phương cách Phật vận dụng để giáo hóa chúng sinh tùy theo trình độ và hoàn cảnh: tùy thế gian, tùy mỗi người, đối trị bệnh tâm, và chỉ thẳng nghĩa rốt ráo.

Tất-đàn là thuật ngữ chỉ bốn phương pháp căn bản mà Phật dùng để giáo hóa chúng sinh, thường gọi đủ là Tứ Tất-đàn (bốn tất-đàn). Đây là một cách phân tích cổ điển, được luận sư Long Thọ trình bày trong Đại Trí Độ Luận, giúp hiểu vì sao cùng một sự thật mà Phật lại nói nhiều cách khác nhau.

Gốc từ: “Tất-đàn” là phiên âm Phạn ngữ siddhānta, nghĩa là tông chỉ thành tựu, điều được xác lập, pháp đem lại lợi ích thành tựu cho người nghe.

Bốn tất-đàn gồm: Thế giới tất-đàn (tùy theo cách hiểu của thế gian mà nói, dùng ngôn ngữ quy ước); Vị nhân tất-đàn (tùy theo căn cơ riêng từng người mà dạy điều thích hợp để sinh thiện); Đối trị tất-đàn (tùy bệnh phiền não mà cho pháp đối trị, như tham thì dạy quán bất tịnh); và Đệ nhất nghĩa tất-đàn (chỉ thẳng chân lý rốt ráo, lìa mọi quy ước). Bốn cách này thể hiện tinh thần phương tiện thiện xảo, luôn khế hợp căn cơ người nghe.

Ví dụ: Với người chấp ngã nặng, Phật nhấn mạnh vô ngã (đối trị); với người sơ cơ, Phật khen ngợi việc bố thí giữ giới để khích lệ (vị nhân); đó là vận dụng tất-đàn khác nhau.

Dễ nhầm: Có người thấy Phật nói khác nhau, thậm chí như mâu thuẫn, nên hoài nghi. Thực ra mỗi lời dạy ứng với một tất-đàn, một mục đích và đối tượng riêng; hiểu được bốn tất-đàn thì thấy các lời dạy ấy không hề chống nhau mà cùng dẫn về một đích.

Thuật ngữ liên quan