Pháp thân Bồ-tát
Bậc Bồ-tát đã bước vào các địa vị chứng ngộ cao, phần nào thể nhập được chân lý tuyệt đối, khác với Bồ-tát còn ở hàng phàm.
Pháp thân Bồ-tát là bậc Bồ-tát đã chứng từ Sơ địa (địa vị đầu trong Thập địa) trở lên, nhờ đó phần nào thể nhập được pháp thân chân như, tức chân lý tuyệt đối. Khái niệm này được dùng để phân biệt với các Bồ-tát còn ở hàng phàm phu, chưa thực sự chứng nhập chân như.
Gốc từ: “Pháp thân” chỉ thân chân thật, là bản thể chân như bình đẳng, không hình tướng; “Bồ-tát” là bậc cầu giác ngộ và cứu độ chúng sinh. “Pháp thân Bồ-tát” là Bồ-tát đã phần nào chứng pháp thân.
Trong lộ trình tu chứng của Bồ-tát theo Đại thừa, ranh giới quan trọng là từ Sơ địa (Hoan hỷ địa). Trước đó, các Bồ-tát ở giai vị “địa tiền” (trước thập địa) tu hành chủ yếu bằng tín giải và công phu, nhưng chưa trực tiếp chứng nhập chân như. Khi vào Sơ địa, hành giả lần đầu hiện chứng được pháp tánh, nên gọi là Pháp thân Bồ-tát; càng lên cao trong Thập địa thì mức độ thể nhập càng sâu, công đức và năng lực lợi sinh càng lớn.
Ví dụ: Một Bồ-tát Pháp thân, do đã chứng pháp tánh, có thể tùy nguyện thị hiện nhiều thân để hóa độ chúng sinh ở nhiều nơi, điều mà Bồ-tát phàm phu địa tiền chưa làm được một cách tự tại.
Dễ nhầm: “Pháp thân Bồ-tát” không phải đã thành Phật; vị ấy mới chứng một phần pháp thân chứ chưa viên mãn rốt ráo như quả Phật. Cần phân biệt với “pháp thân” như một trong Tam thân của Phật.