Lạc
Pāli: sukha · Sanskrit: sukha
Cảm giác an vui, dễ chịu vi tế khởi lên khi tâm an trú trong thiền định. Đây là một trong những yếu tố đặc trưng của các tầng thiền.
Lạc (với tư cách một chi thiền) là cảm thọ an vui, thư thái, dễ chịu vi tế phát sinh khi tâm hành giả an trú trong thiền định. Nó là một trong các “chi” (yếu tố) cấu thành các tầng thiền sắc giới.
Gốc từ: Pāli và Sanskrit sukha nghĩa là “an lạc, dễ chịu, hạnh phúc”, đối lại với dukkha (khổ). Hán dịch là “lạc”.
Trong hệ thống bốn thiền (tứ thiền sắc giới), các chi thiền lần lượt được nêu là tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm. Khác với hỷ (pīti) là sự phấn khích, hân hoan có phần thô và mang tính rung động, lạc (sukha) là niềm an ổn lắng dịu, sâu và bền hơn. Khi vào sơ thiền và nhị thiền còn cả hỷ lẫn lạc; lên tam thiền thì hỷ lắng xuống, chỉ còn lạc tinh tế; đến tứ thiền thì cả lạc cũng vượt qua, tâm an trú trong xả niệm thanh tịnh. Hiểu rõ lạc giúp hành giả không lầm chấp cảm thọ định là mục đích cuối cùng.
Ví dụ: Người mới đắc định thường thấy thân tâm tràn ngập sự thư thái êm dịu chưa từng có; đó là chi lạc của thiền, vi tế và lắng sâu hơn nhiều so với khoái lạc giác quan thường ngày.
Dễ nhầm: Đừng lẫn lạc (sukha) với hỷ (pīti): hỷ là niềm hân hoan rộn ràng, còn lạc là sự an ổn tĩnh lặng. Cũng đừng coi lạc của thiền là cứu cánh; nó vẫn là pháp hữu vi cần được quán chiếu và buông xả để tiến tới tuệ giải thoát.