Căn bản trí
Sanskrit: mūla-jñāna
Trí gốc trực tiếp chứng ngộ chân như, lìa mọi phân biệt, làm nền cho trí phương tiện về sau.
Căn bản trí là loại trí tuệ gốc rễ trong giáo lý Duy thức và Đại thừa, chỉ thứ trí trực tiếp chứng ngộ chân như (thật tánh của các pháp), trong trạng thái lìa hết mọi phân biệt, năng sở. Đây là trí làm nền tảng để từ đó phát sinh hậu đắc trí.
Gốc từ: Căn bản là gốc rễ, nền tảng; trí là trí tuệ. Sanskrit mūla-jñāna: mūla nghĩa là gốc, rễ; jñāna là trí, sự hiểu biết chứng ngộ. Vì là cái trí làm gốc nên còn gọi là vô phân biệt trí (trí không phân biệt).
Trong tiến trình giác ngộ, hành giả trước hết chứng được căn bản trí: tâm trực nhận thật tướng các pháp một cách như thật, không qua khái niệm, không còn tách biệt người biết và cái bị biết. Sau khi xuất khỏi định chứng ấy, từ căn bản trí mà khởi lên hậu đắc trí (trí có được về sau), là trí thấy rõ sự sai biệt của muôn pháp như huyễn để khéo léo độ sinh. Hai trí này như thể và dụng: căn bản trí là gốc, hậu đắc trí là diệu dụng giáo hóa.
Liên hệ: Cặp căn bản trí và hậu đắc trí thường được dùng để mô tả trí tuệ viên mãn của bậc thánh: vừa thâm nhập chân lý tuyệt đối, vừa thông đạt sự tướng thế gian.
Dễ nhầm: Căn bản trí không phải là một thứ kiến thức học hỏi, suy luận mà có; nó là trí chứng ngộ trực tiếp, vượt khỏi tư duy phân biệt. Hiểu lầm nó như sự thông minh, uyên bác thông thường là chưa nắm được ý nghĩa “vô phân biệt” cốt yếu của loại trí này.