Tứ vô ngại biện
Pāli: Paṭisambhidā · Sanskrit: Pratisaṃvid
Bốn năng lực biện giải thông suốt, không vướng mắc khi giảng nói chánh pháp.
Tứ vô ngại biện (còn gọi tứ vô ngại giải, tứ vô ngại trí) là bốn năng lực biện tài thông suốt không bị chướng ngại của bậc thông đạt giáo pháp, đặc biệt nơi các vị Bồ tát và A la hán có khả năng giáo hóa. Bốn loại gồm: pháp vô ngại (thông suốt giáo pháp, danh từ, tướng trạng của các pháp), nghĩa vô ngại (thấu đạt ý nghĩa hàm chứa trong giáo pháp), từ vô ngại (thông thạo ngôn từ, ngôn ngữ các xứ để diễn đạt), và lạc thuyết vô ngại (còn gọi biện vô ngại – tùy nghi giảng nói lưu loát, khế hợp căn cơ người nghe, không bao giờ bí lời).
Gốc từ: “Vô ngại” nghĩa là không bị ngăn ngại, thông suốt; “biện” là biện luận, giảng nói. Pāli paṭisambhidā / Sanskrit pratisaṃvid chỉ trí phân tích thấu triệt.
Bốn vô ngại biện thể hiện tầm quan trọng của khả năng truyền đạt trong đạo Phật: chứng ngộ chân lý là một việc, nhưng diễn bày sao cho người khác hiểu và tin nhận lại đòi hỏi trí tuệ và phương tiện thiện xảo riêng. Đây là phẩm chất lý tưởng của một vị thầy, một vị thuyết pháp.
Dễ nhầm: “Lạc thuyết vô ngại” dễ bị hiểu nhầm là “thích nói, nói nhiều”. Thực ra nó chỉ năng lực vui thích và tự tại trong việc giảng nói khế cơ, tùy theo trình độ người nghe mà nói cho thích hợp, chứ không phải nói tràng giang vô ích.